Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

Thực hành phương pháp day vuốt huyệt theo KCYĐ làm tăng hay hạ áp huyết

A-PHẦN LÝ THUYẾT :

Vẫn xem huyệt là chính, nhưng vuốt trên một đoạn huyệt ngũ hành tác động trên đường kinh nhanh hơn, nên không khó như châm cứu phải đúng huyệt, vì trên kinh đã có sẵn đoạn bổ hay tả.

Trước khi vuốt huyệt trên da bệnh nhân, cần phải thoa dầu bôi trơn vừa dễ vuốt vừa không bị trầy da bệnh nhân. Chỉ cần vuốt bổ thì không làm đau bệnh nhân, nếu đau sẽ phản tác dụng thành tả.

Còn vuốt tả thì vuốt hơi đau.

Như vậy 6 công thức này được thực hành vuốt huyết như sau :

1-Làm tăng Khí lực (tâm thu) :

a-Chọn huyệt làm tăng khí lực bên tay trái : Bổ Giải Khê, bổ Hậu Khê

Bổ hỏa đoạn là vuốt từ Túc Tam Lý đến Giải Khê 9 lần rồi mới ấn day Giải Khê thuận 9 lần.

Bổ mộc đoạn là vuốt từ Hậu Khê đến Dương Cốc 9 lần, rồi mới ấn day Hậu Khê thuận 9 lần.

clip_image002 clip_image004

b-Chọn huyệt làm tăng khí lực bên tay phải : Bổ Hiệp Khê, bổ Chí Âm

clip_image006 clip_image008

Bổ thủy đoạn vuốt từ Túc Lâm Khấp đến Hiệp Khê 9 lần, rồi ấn day Hiệp Khê 9 lần thuận.

Bổ kim đoạn vuốt từ Thông Cốc đến Chí Âm lần, rồi ấn day Chí Âm 9 lần thuận.

2-Làm giảm Khí lực (tâm thu):

a-Chọn huyệt làm giảm khí lực bên tay trái : Tả Lệ Đoài, tả Nhị Gian

clip_image009 clip_image011

Tả kim đoạn từ Nội Đình đến Lệ Đoài 6 lần rồi ấn day Lệ Đoài 6 lần nghịch chiều.

Tả thủy đoạn từ Nhị Gian đến Tam Gian 6 lần rồi ấn day Nhị Gian 6 lần nghịch chiều

b-Chọn huyệt làm giảm khí lực bên tay phải : Tả Dương Phụ, tả Tiểu Hải

clip_image012 clip_image013

Tả hỏa đoạn vuốt từ Dương Lăng Tuyền đến Dương Phụ 6 lần rổi ấn day Dương Phụ 6 lần nghịch.

Tả thổ đoạn vuốt từ Tiểu Hải lên nách 6 lần rồi ấn day Tiểu Hải 6 lần nghịch.

3-Làm tăng Huyết (tâm trương) :

a-Chọn huyệt làm tăng huyết bên tay trái : Bổ Đại Đô, bổ Thiếu Xung

clip_image015 clip_image017

Vuốt từ Đại Đô đến Thái Bạch 9 lần rồi ấn day Đại Đô 9 lần thuận.

Vuốt từ Thiếu Phủ đến Thiếu Xung 9 lần rồi ấn day Thiếu Xung 9 lần thuận.

b-Chọn huyệt làm tăng huyết bên phải : Bổ Khúc Tuyền, bổ Phục Lưu

clip_image019 clip_image021

Vuốt từ Khúc Tuyền lên háng (Âm Liêm) 9 lần rồi ấn day Khúc Tuyền 9 lần thuận.

Vuốt từ Phục Lưu lên Âm Cốc 9 lần rồi ấn day Phục Lưu 9 lần thuận

4-Làm giảm Huyết (tâm trương) :

a-Chọn huyệt làm giảm huyết bên tay trái : Tả Thương Khâu, tả Xích Trạch

clip_image022 clip_image024

Vuốt từ Thương Khâu lên Âm Lăng Tuyền 6 lần rồi ấn day Thương Khâu 6 lần nghịch.

Vuốt từ Tung Phủ xuống Xích Trạch 6 lần rồi ấn day Xích Trạch 6 lần nghịch.

b-Chọn huyệt làm giảm huyết bên tay phải : Tả Hành Gian, tả Thần Môn

clip_image025 clip_image026

Vuốt từ Hành Gian lên Thái Xung 6 lần rối ấn day Hành Gian 6 lần nghịch.

Vuốt từ Linh Đạo đến Thần Môn 6 lần rồi ấn day Thần Môn 6 lần nghịch

5-Làm tăng nhiệt (nhịp tim) :

a-Chọn huyệt làm tăng nhiệt bên tay trái : Bỏ Đại Đô, ấn day thuận chiều 9 lần

b-Chọn huyệt tăng nhiệt bên tay phải : Bổ Hành Gian, ấn day thuận 9 lần

6-Làm hạ nhiệt (nhịp tim) :

a-Chọn huyệt làm hạ nhiệt bên tay trái : Tả Đại Đô, ấn day huyệt nghịch chiều 6 lần.

b-Chọn huyệt làm hạ nhiệt bên tay phải : Tả Hành Gian, ấn day huyệt nghịch chiều 6 lần.

B-PHẦN THỰC HÀNH :

Chúng ta hãy thử nghiệm cả 6 giai đoạn để tìm xem giai đoạn nào làm 3 số hạ thấp nhất, như thí dụ dưới đây :

Phân tích kết qủa thực tập của bệnh nhân :

Trường hợp 1 :

Đo áp huyết 2 tay trước khi vuôt huyệt :Tay trái 134/90/96 tay phải 140/93/94

Làm hạ khí tay trái rồi đo lại 2 tay : Tay trái 124/85/85 Tay phải 132/86/84

Làm hạ khí tay phải rồi đo lại 2 tay : 127/90/86 122/88/86

Làm hạ huyết tay trái rồi đo lại 2 tay : 123/88/89 129/85/88

Làm hạ huyết tay phải rồi đo lại 2 tay : 114/84/85 115/81/82

Làm hạ nhịp tim tay trái rồi đo lại 2 tay : 124/91/85 121/83/84

Làm hạ nhịp tim tay phải rồi đo lại 2 tay : 121/83/85 132/86/85

Làm hạ nhịp tim là làm hạ nồng độ đường, đo lại đường : Trước : 7.5mmol/l sau 5.1mmol/l

Trường hợp 2 :

Con đi làm về lúc 18h nghỉ ngơi 10 phút con đo đường : có 4,8 .

TT : 118 / 88 / 88 TP : 121 /86 / 90

Con uống 1 cốc mật ong một lúc đo lại là 6,7

Đo áp huyết lại : TT : 129 / 90 / 96 TP : 129 /88 / 93

1-Hạ khí tay trái : TT : 127 / 91 / 92 TP : 125 / 87 / 91

2-Hạ khí tay phải : TT : 127 / 87 / 92 TP : 122 / 86 / 88

3-Hạ huyết tay trái : TT : 125 / 86 / 87 TP : 122 / 84 / 91

4-Hạ huyết tay phải : TT : 117 / 85 / 90 TP : 115 / 83 / 90

5-Hạ nhiệt tay trái : TT : 120 / 85 / 91 TP : 123 / 88 / 90

6-Hạ nhiệt tay phải : TT : 120 / 84 / 89 TP : 122 / 84 / 91

Đo lại đường tụt xuống còn 5.0 thầy ạ .

Cá nhân con thấy đúng như thầy nói là hạ mạch thì làm giảm đường huyết, con còn nhận thấy nếu mạch không xuống là vì cơ thể thiếu huyết . Mấy hôm nay con thử nhiều người và trên cơ thể con nên suy luận như vậy .

Thứ Ba, 24 tháng 12, 2013

7 THỰC PHẨM CÓ ÍCH CHO BỆNH HEN SUYỄN.


Lựa chọn thực phẩm thông minh có thể giúp bạn thở dễ dàng hơn nếu bạn có bệnh hen suyễn.


Táo





Một nghiên cứu của Anh phát hiện ra rằng ngay cả sau khi đã kiểm soát các yếu tố khác, những người ăn 2-5 quả táo mỗi tuần có nguy cơ mắc bệnh hen suyễn thấp hơn 32% so với những người ăn ít táo. Theo như nghiên cứu các tác giả cho rằng các hợp chất có lợi được gọi là flavonoid, đã được chứng minh để mở đường hô hấp.




Dưa vàng





Dưa vàng rất giàu vitamin C là một chất chống oxy hoá mạnh có thể tránh khỏi tổn thương phổi qua các trận đánh các gốc tự do. Một nghiên cứu về trẻ em mẫu giáo ở Nhật Bản phát hiện ra rằng những người có lượng vitamin C cao thường ít có khả năng bị hen suyễn hơn so với những người có lượng thấp hơn.


Vitamin C có thể được tìm thấy trong hầu hết các loại trái cây và rau quả như: cam, bưởi, kiwi, bông cải xanh, cải bruxen và cà chua.


Cà rốt





Cà rốt nổi tiếng với có chứa beta-carotene và một số chất chống oxy hoá khác. Nghiên cứu sơ bộ cho thấy beta-carotene, được chuyển đổi thành vitamin A trong cơ thể, có thể làm giảm tỷ lệ mắc hen do tập luyện.


Các sắc tố trên cũng rất cần thiết để giữ cho đôi mắt và hệ thống miễn dịch trong trạng thái tốt nhất và thậm chí có thể giúp đỡ với bệnh tim, ung thư và bệnh Alzheimer.


Có thể tìm thấy beta-carotene không chỉ trong cà rốt mà còn có trong những trái cây sặc sỡ khác như: mơ, ớt xanh và khoai lang.


Cà phê





Trong những nghiên cứu gần đây được công bố trước đây cho thấy cà phê có chứa caffein có thể cải thiện chức năng đường hô hấp. Caffeine là một thuốc giãn phế quản có thể cải thiện luồng không khí.


Tỏi





Tỏi có tính kháng viêm, trong dân gian tỏi được biết đến như là một phương thuốc chữa được nhiều loại bệnh từ bận trĩ cho đến nhiễm virus. Tỏi chứa allicin, một chất chống oxy hoá cực mạnh. Một nghiên cứu năm 2009 cho thấy allicin phân rã trong cơ thể, nó tạo ra một loại axit phá huỷ các gốc tự do. Nó giúp giảm bệnh hen suyễn.








Bơ có chứa một chất chống oxy hoá quan trọng được gọi là glutathione giúp bảo vệ các tế bào chống lại các thiệt hại gây ra bởi các gốc tự do. Trong bơ giàu chất báo không bão hoà nó giảm cholesterol. Ăn bơ giúp cho hệ hô hấp khoẻ mạnh.


Hạt lanh

Hạt lanh rất giàu axit béo omega-3 cũng như magiê. Một số nghiên cứu cho thấy omega-3 có lợi cho bệnh suyễn. Magiê là một thành phần hữu ích nó giúp thư giãn các cơ bắp xung quanh các phế quản, đường hô hấp.





Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

MẸO KHỬ ĐỘC TRONG RAU QUẢ.



Việc sử dụng các loại rau có chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) vượt ngưỡng có thể khiến người tiêu dùng bị ngộ độc mãn tính, dẫn thể miễn dịch, thậm chí ảnh hưởng đến hệ thần kinh… Song nếu lựa chọn và chế biến đúng cách các loại rau, củ, quả có thể giảm mối nguy hại tới 90%.


- Khi lựa chọn rau, củ, quả cần phải tìm mua tại các cửa hàng có uy tín, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Hiện nay, ở một số thành phố lớn như Hà Nội đã có các cửa hàng và sàn giao dịch bán rau an toàn, người tiêu dùng nên mua tại đó.



Hãy chọn mua hoa quả ở những cửa hàng uy tín

- Tránh mua rau quả gọt vỏ và xắt sẵn, ngâm nước ở ngoài chợ vì ngoài việc nguồn nước ngâm không đảm bảo vệ sinh, có thể họ hòa các hóa chất độc hại. Ngoài ra, các sinh tố vốn có trong rau tươi như sinh tố C, dễ bị hoà tan và mất đi trong nước ngâm.


- Đối với các loại củ, quả, trước khi sử dụng cần được rửa sạch, có thể sử dụng nước muối hoặc ô rôn để khử trùng. Điều quan trọng hơn cả là tất cả các loại củ, quả phải được gọt vỏ, loại bỏ những chỗ trầy, xước, kẽ nứt, nẻ, dập, thối… là khu vực có nguy cơ vi sinh vật, các chất từ thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản có thể xâm nhập cao.


- Đối với rau, khi chế biết phải nhặt bỏ hết những phần có mối nguy hại, rửa sạch, khử trùng bằng nước muối hoặc ô rôn. Dù đã khử trùng bằng nước muối nhưng người tiêu dùng cũng không nên ăn rau sống. Hiện nay, vào mùa hè người dân thường rất thích ăn sống các loại giá đỗ, rau mầm.





Không chọn mua những loại hoa quả đã được cắt gọt từ bên ngoài


- Có một mẹo nhỏ giúp người tiêu dùng loại bỏ được 90% mối nguy hại đó là:


+ Ngâm rau trong nước sạch khoảng 5-10 phút mới rửa hoặc dùng nước vo gạo để ngâm, mục đích để trung hòa tính độc tố ở thuốc trừ sâu.


+ Dùng nước muối 5% rửa rau.


+ Dưa chuột, cà tím hoặc những loại củ quả có lượng thuốc trừ sâu đậm đặc tốt nhất là rửa sạch, gọt vỏ ngoài mới ăn.


+ Làm nóng ở nhiệt độ cao cũng làm cho thuốc trừ sâu phân giải, một số loại rau chịu nhiệt như súp lơ, đỗ, rau cần…sau khi rửa sạch, chần qua bằng nước nóng 2 phút làm cho lượng thuốc trừ sâu suy giảm 30%., sau đó nấu ở nhiệt độ cao, như vậy sẽ tẩy trừ được 90% lượng thuốc trừ sâu.





Bạn có thể dùng nước sạch hoặc nước muối nhạt để rửa hoa quả


+ Ánh nắng mặt trời làm cho lượng thuốc trừ sâu trên rau bị phá vỡ, phân giải. Để rau dưới ánh nắng mặt trời 5 phút, lượng thuốc trừ sâu tàn lưu trên rau như thủy ngân hữu cơ, clo hữu cơ giảm được khoảng 60%.



DVD mới

Bài tập Cúi lạy làm giảm áp huyết và đường trong máu

 

Bài tập đá gót chân vào mông làm tăng áp huyết

 

Bài tập tăng cường trí nhớ

Tự vuốt huyệt làm hạ áp huyết ngừa tai biến tê liệt

Những bệnh nhân có số đo áp huyết cao hơn 140/90mmHg, mạch tim đập 80 sẽ có nguy cơ cao áp huyết sẽ gây tai biến và tê liệt. Để ngừa bệnh này, chúng ta hãy tự chữa mỗi lần uống thuốc hạ áp huyết mà không giảm.

Theo Khí Công Y Đạo, giá trị của 3 số đo có ý nghĩa : Khí lực/ Huyết/ Hàn-nhiệt

Số 140 là Khí Lực, nếu lớn hơn 140 là khí lực tăng, cần phải làm giảm.

Số 90 là Huyết, nếu lớn hơn là dư huyết, cần phải làm giảm.

Số 80 là nhịp tim, nếu cao hơn là có bệnh liên quan đến đường lảm tay chân nóng, cần phải làm giảm.

Áp huyết cần phải đo 2 tay, áp huyết tay trái liên quan đến bao tử, áp huyết tay phải liên quan đến gan.

Khi đo áp huyết, cũng nên đo độ đường trong máu.

Qúy vị hãy áp dụng thử theo thứ tự hướng dẫn dưới đây, chỉ chữa bên tay nào có áp huyết cao hơn.

Thí dụ đo 2 bên tay có số đo là 145/95mmHg nhịp tim 85, bên kia là 150/92mmHg nhịp tim 82, thì chúng ta chọn bên cao hơn là 150 để chữa.

Điều quan trọng theo lý thuyết đông y, Khí lực cao thì gọi là Khí có bệnh, thì đông y không chữa vào khí, mà dùng Huyết chữa Khí

Khi chữa 1 bên thì d0o lại hai tay sẽ thấy cả 3 số ở cả hai bên tay đều thay đổi.

Chúng ta hãy cùng thử nghiệm : Chỉ được chọn một bên tay chân nào có khí lực cao, chọn a hay b.

-Làm giảm Huyết (tâm trương) sẽ làm hạ Khí lực làm giảm áp huyết và đường.

a-Chọn huyệt làm giảm huyết bên tay trái và chân trái nếu tay trái cao hơn tay phải :

Huyệt chọn để chữa là Tả Thương Khâu, tả Xích Trạch. Cách vuốt như dưới đây, bôi dầu trơn trước khi vuốt.

clip_image002clip_image004

clip_image006 clip_image008

Vuốt từ Thương Khâu lên Âm Lăng Tuyền 6 lần rồi ấn day Thương Khâu 6 lần nghịch.

Vuốt từ Trung Phủ xuống Xích Trạch 6 lần rồi ấn day Xích Trạch 6 lần nghịch.

b-Chọn huyệt làm giảm huyết bên tay phải, chân phải, nếu áp huyết bên tay phải cao hơn tay trái : Huyệt chọn để chữa Tả Hành Gian, tả Thần Môn, cách vuốt như hướng dẫn sau :

clip_image010 clip_image012

clip_image014 clip_image016

Vuốt từ Hành Gian lên Thái Xung 6 lần rối ấn day Thái Xung 6 lần nghịch.

Vuốt từ Linh Đạo đến Thần Môn 6 lần rồi ấn day Thần Môn 6 lần nghịch

Sau khi vuốt huyệt chân rồi đến tay xong, thì đo lại áp huyết hai tay, áp huyết hai tay sẽ thay đổi. Nếu áp huyết chưa xuống như ý muốn thì vuốt lại lần thứ hai.

Nếu khi đo lại áp huyết hai tay, chúng ta sẽ thấy nhịp tim giảm. Chúng ta có thể đo đường lại để so sánh thấy đường trong máu hạ

Phân tích một thí dụ về kết qủa thực tập của một bệnh nhân :

Đo áp huyết 2 tay trước khi vuôt huyệt : Tay trái 134/90/96
tay phải 140/93/94

Đo đường 7.5mmol/l

Thông thường có 6 cách làm hạ áp huyết :

1-Làm hạ khí tay trái rồi đo lại 2 tay : Tay trái 124/85/85 Tay phải 132/86/84

2-Làm hạ khí tay phải rồi đo lại 2 tay : 127/90/86 122/88/86

3-Làm hạ huyết tay trái rồi đo lại 2 tay : 123/88/89 129/85/88

4-Làm hạ huyết tay phải rồi đo lại 2 tay : 114/84/85 115/81/82

5-Làm hạ nhịp tim tay trái rồi đo lại 2 tay : 124/91/85 121/83/84

6-Làm hạ nhịp tim tay phải rồi đo lại 2 tay : 121/83/85 132/86/85

Làm hạ nhịp tim là làm hạ nồng độ đường, đo lại đường : 5.1mmol/l

Trong 6 cách làm hạ áp huyết, chúng ta thấy cách thứ 4 làm 3 số xuống thấp nhất, vì nó đúng với lý thuyết đông y là Khí lực cao thì phải hạ Huyết. Nếu theo lý thuyết này thì thay vì chữa 6 lần chúng ta chỉ chữa 1 lần. Rồi đo lại áp huyết hai tay và dđo đường để so sánh trước và sau khi chữa.

So sánh trước khi chữa :

Tay trái : 134/90mmHg nhịp tim 96 tay phải : 140/93mmHg
nhịp tim 94 đường 7.5mmol/l

Sau khi chữa :

Tay trái : 114/84mmHg nịp tim 85 Tay phải : 115/81mmHg
nhịp tim 82 đường 5.1mmol/l

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2013

NHỮNG THỨ ĐỘC HẠI TRONG NHÀ BẾP.




Tổ chức Sức khỏe trẻ em thế giới khuyên mọi người nên đề cao cảnh giác loại bỏ các độc tố nhà bếp bắt đầu từ thói quen an toàn vệ sinh. "Hãy làm cho nhà bếp của bạn trở thành một nơi lành mạnh để tạo ra những bữa ăn ngon, an toàn cho gia đình", đó là thông điệp của tổ chức này được đăng tải trên trang Mindbodygreen.


1. Nói không với nhựa


Các sản phẩm làm từ nhựa nói chung là độc hại từ quá trình sản xuất, sử dụng và xử lý chất thải về sau. Một số loại nhựa được sử dụng trong nhà bếp và đồ gia dụng có thể sản sinh hóa chất độc, dễ dàng thôi sang thực phẩm, đồ uống và tồn tại lởn vởn lâu dài trong không khí.





Đồ nhựa giá rẻ rất độc hại cho sức khẻo của bạn




Do đó mọi người được khuyên nên lựa chọn những sản phẩm gia dụng an toàn cho sức khỏe làm từ thủy tinh, gốm hoặc thép không gỉ, có thể dễ dàng mua ở cửa hàng tạp hóa. Còn nếu bạn vẫn thích dùng đồ nhựa, hãy chọn loại có thể tái chế để ít nhất chúng không gây ô nhiễm môi trường về sau.


2. Không dùng chảo chống dính


Chảo chống dính được phủ một lớp hóa chất rất độc và tồn tại lâu trong môi trường. Perfluorooctanoic axit, hóa chất được sử dụng để tạo ra teflon, là chất chống dính có thể gây ung thư nếu xâm nhập vào cơ thể. Nó có thể gây hại cho thận, gan, cũng như các rối loại về sinh sản.


Mặc dù các nhà sản xuất quảng cáo rằng loại chảo này không có hóa chất độc hại, nhưng thực tế khi nấu ở nhiệt độ cao, perfluorooctanoic axit có thể bốc hơi từ bề mặt chống dính. Mặt khác bề mặt chảo chống dính bị trầy xước cũng có thể làm cho hóa chất thôi ra và bám vào thức ăn.


Có những lựa chọn thay thế an toàn hơn cho đồ dùng nấu nướng của bạn thay vì dùng đồ chống dính. Đó có thể là dụng cụ thủy tinh, gốm sứ, thép không gỉ, gang...





Bạn cũng nên chọn chảo chống dính chất lượng để tránh mang bệnh


3. Nên chọn thực phẩm hữu cơ


Dùng thực phẩm hữu cơ tươi, sạch là cách an toàn nhất để đảm bảo rằng bạn đang hấp thu được các loại hoa quả, thịt và rau lành mạnh, tốt cho sức khỏe. Các loại thực phẩm có gắn nhãn “100% hữu cơ” thì không chứa các sinh vật chuyển gene (là sản phẩm đã được biến đổi gene trong phòng thí nghiệm). Mặc dù thực tế thực phẩm hữu cơ đắt hơn bình thường nên ít gia đình có điều kiện mua.


4. Chú ý khử thuốc trừ sâu


Thuốc trừ sâu là chất độc, trong nhiều trường hợp, nó còn độc hại hơn nhiều so với sức phá hoại của sâu bọ. Thuốc bảo vệ thực vật đã được chứng minh gây ra nhiều vấn đề sức khỏe bao gồm bệnh hen suyễn, tăng động, các vấn đề rối loạn hành vi, ung thư, khuyết tật, rối loại sinh sản và gây tổn thương đến sự phát triển của não. Bạn có thể ngăn ngừa sâu bệnh trong nhà bếp của mình bằng việc vệ sinh hằng ngày và những thói quen bảo quản thực phẩm một cách tự nhiên thay vì dùng hóa chất.


5. Sử dụng thuốc tẩy rửa có nguồn gốc tự nhiên





Bạn cũng nên lưu ý khi chọn các loại nước tẩy rửa


Để giữ cho nhà bếp sạch sẽ mà không độc hại, hãy sử dụng chất tẩy rửa có lợi cho môi trường lại không để lại mùi hóa chất khó chịu trên chén bát, sàn, bếp hoặc các thiết bị khác. Hãy làm vệ sinh nhà bếp để ngăn ngừa nhiễm khuẩn bằng cách sử dụng hydrogen peroxide hoặc dầu cây trà.


Để tìm những sản phẩm làm sạch có lợi cho môi trường bạn có thể nhìn vào nhãn ghi trên bao bì. Tránh mua các sản phẩm có chứa nonylphenol ethoxylate, triclosan, ammonia, thuốc tẩy clo, DEA, TEA, hydrochloric acid, sodium hydroxide, và axit sulfuric. Ngoài ra bạn cũng có thể tự chế tạo chất tẩy rửa từ những thành phần tự nhiên dễ tìm trong dân gian.





Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

KHÁM BỆNH BẰNG MÁY ĐO ÁP HUYẾT, CHỮA BỆNH BẰNG HUYỆT THEO CÔNG THỨC ĐIỀU CHỈNH KHÍ/HUYẾT/NHỊP MẠCH

https://drive.google.com/file/d/0BzTtsb_fw3P0UTd2NkhrRUF5alU/edit?usp=sharing

PHẦN MỘT :

A-Áp dụng máy đo áp huyết dùng khám bệnh cho các thầy thuốc đông y và châm cứu

Các thầy thuốc dông y xưa kia khám tìm bệnh bằng cách bắt mạch ở cổ tay là để biết tình trạng Khí, Huyết, hư hay thực, hàn hay nhiệt, ở biểu hay ở lý. Tuy nhiên rất khó chính xác nếu không có kinh nghiệm học và hành nghề vài chục năm.

May mắn là ngày nay các thầy thuốc đông y có thể dùng máy đo áp huyết thay cho bắt mạch, vừa nhanh vừa chính xác chỉ nhìn vào 3 con số kết qủa của máy đo áp huyết, chúng ta cũng đã thấy ngay được tình trạng Khí/Huyết ở số thứ 1 và số thứ 2 hư hay thực và hàn hay nhiệt ở số thứ 3 theo quy ước từ tây y là : Tâm thu/tâm trương/ Nhịp tim.

Đổi sang đông y là : Khí lực/ huyết/nồng độ đường

Nhưng tây y thường chỉ đo áp huyết bên tay trái để biết tình trạng tim mạch, Còn đông y bắt buộc phải d0o cả hai tay và hai chân mới biết đủ số liệu để luận bệnh theo lý thuyết đông y.

Đo áp huyết ở tay trái biết được Khí của Vị (bao tử) huyết của Tỳ (lá lách) và hàn hay nhiệt của mạch.

Đo bên tay phải biết được khí của Đởm ( mật) huyết của Can (gan), và hàn nhiệt của mạch.

Đo ở cổ chân trong bên trái biết được khí của Đại Trường và huyết của thận trái, và hàn nhiệt của mạch.

Đo ở cổ chân trong bên phải biết được khí của Bàng Quang và huyết của thận phải và hàn nhiệt của mạch.

Thí dụ : Áp huyết theo tiêu chuẩn tuổi trung niên:

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

B-Định bệnh theo âm-dương Hư -Thực, Hàn-Nhiệt theo kết qủa máy đo áp huyết.

Thí dụ : Áp huyết theo tiêu chuẩn tuổi trung niên:

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

Số thứ nhất là Khí lực thuộc kinh dương:

a-Nếu cao hơn 130 là khí thực (dư thừa), phải tả bớt cho khí hạ xuống.

b-Nếu thấp hơn 120 là khí hư (thiếu) phải bổ cho thêm khí tăng lên.

Số thứ hai là Huyết thuộc kinh âm :

a-Nếu cao hơn 80 là huyết thực, dư thừa, phải tả bớt cho huyết hạ thấp.

b-Nếu thấp hơn 70 là huyết hư thiếu, không đủ, phải bổ cho huyết tăng lên đúng tiêu chuẩn.

Số thú ba nhịp tim chỉ Hàn hay nhiệt trên kinh dương hay âm.

a-Nếu nhịp tim cao hơn 75 là nhiệt phải làm bớt nhiệt.

b-Nếu nhịp tim thấp hơn 70 là hàn, phải làm tăng nhiệt.

C-Tổng số các loại bệnh do xáo trộn âm-dương, khí-huyết, huư-thực, hàn-nhiệt mà máy đả đo được nhửng con số khác nhau, không trùng lập nhau.

Áp huyết bên tay trái tìm ra được 78 loại bệnh :

Áp huyết đo bên tay trái là khám bệnh của 2 cơ quan bao tử là dương khí có 13 loại bệnh, và của lá lách là âm huyết có 13 loại bệnh, nên có các con số áp huyết khác nhau. = 26 loại bệnh

a-Nếu áp huyết thuộc loại Tỳ Vị hư chứng (insuffisant) thuộc thổ, lại liên quan đến mẹ của thô là hỏa bị bệnh lại tìm ra bệnh khí của Tiểu Trường có 13 loại bệnh và bệnh huyết của Tâm có 13 loại bệnh = 26 loại bệnh.

b-Ngược lại áp huyết thuộc loại Tỳ Vị thực chứng (excès) thuộc thổ lại liên quan đến con của thổ là kim bị bệnh loại tìm ra bệnh khí của Đại Trường có 13 loại bệnh và bệnh huyết của Phế có 13 loại bệnh = 26 loại bệnh.

Áp huyết bên tay phải tìm ra được 78 loại bệnh :

Áp huyết đo bên tay phải là khám bệnh của 2 cơ quan mật là dương khí có 13 loại bệnh, và của gan là âm huyết có 13 loại bệnh, nên có các con số áp huyết khác nhau = 26 loại bệnh.

a-Nếu áp huyết thuộc Mật Gan hư chứng thuộc mộc, lại liên quan đến mẹ của mộc là thủy bị bệnh lại tìm ra bệnh khí của Bàng Quang có 13 loại bệnh, và bệnh huyết của Thận có 13 loại bệnh = 26 loại bệnh.

b-Ngược lại áp huyết thuộc mật gan thực chứng thuộc mộc lại liên quan đến con của mộc là hỏa bị bệnh lại tìm ra bệnh của hỏa khí Tiểu Trường có 13 loại, và bệnh huyết của Tâm có 13 loại bệnh=26 loại bệnh.

Áp huyết hai tay khác nhau biết được 6084 loại bệnh :

Nếu áp huyết bên tay trái cố định là 1 trong 78 bệnh còn bên phải thay đổi 78 loại, hay ngược lại thì đông y có 6084 trường hợp bệnh bắt mạch bằng máy đo áp huyết khác nhau không trùng hợp. Vì thế theo cách chữa của đông hay tây y khó có thể chữa đúng vào gốc bệnh, và chữa ngọn bệnh thì bệnh sẽ biến đổi trong vòng 6084, vì thế cách chữa bệnh của đông y chỉ là điều chỉnh Khí lực/Huyết của 12 kinh mạch âm dương tạng phủ nếu HƯ thiếu thì BỔ cho Khí Huyết đầy đủ trở về trạng thái bình thường, hay ngược lại nếu Khí/Huyệt kinh mạch tạng phủ THỰC dư thừa thì TẢ cho cho bớt thực trở về trạng thái bình thường.

Trạng thái bình thường ở đây đông y bắt mạch kiểm chứng phải là mạch Hoà Hoãn đúng theo tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi của môn KCYĐ như dưới đây :

Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Trước kia chưa có máy đo áp huyết mà đông y nói rằng khi bắt mạch đã tìm thấy 6084 loại bệnh khác nhau thì tây y không tin nhưng ngày nay nhờ máy đo áp huyết là máy đo sự thay đổi khí huyết của 12 tạng phủ đã thống kê được 6084 trường hợp.

Như vậy tên bệnh gọi là gì, dấu hiệu triệu chứng lâm sàng ra sao, vi trùng virus gì, cách chữa làm sao, nên từ trước đến nay cả đông y lẫn tây y lao vào công việc nghiên cứu cách chữa những loại bệnh này, vô tình là chạy theo ngọn, chỉ là biến chứng, sau khi chữa xong bệnh này, đo lại áp huyết nó lại biến đổi sang bệnh khác, nên chữa mãi không khỏi bệnh.

Riêng đông y, những thầy có căn bản về học thuyết âm-dương, khí-huyết, hư-thực, hàn-nhiệt chỉ cần điều chỉnh gốc bệnh làm sao cho khí huyêt trở về trạng thái bình thường, nhịp tim mạch đập hòa hoãn là khỏi bệnh, má ngày nay môn KCYĐ đã đưa ra bảng tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi.

PHẦN HAI : Chữa ngọn chữa gốc.

A-Cách điều chỉnh bệnh theo áp máy đo áp huyết là chữa vào gốc bệnh :

Máy đo áp huyết không phải chỉ đo tim mạch như tây y mà còn dùng để bắt mạch theo đông y về tình trạng Khí/Huyết hư thực hàn nhiệt của lục phủ ngũ tạng.

Ba số đo của máy đo áp huyết theo tiêu chuẩn Y Học Bổ Sung gọi là Khí/Huyết/ Đường.

Theo đ6ng y thuộc về bệnh của Tạng Phủ theo công thức :

Phủ/Tạng/Hàn-nhiệt

Không thể nào đông hay tây chữa được hết 6084 loại bệnh là ngọn bệnh do biến chứng Khí/Huyêt thay đổi, nên đông y chữa thẳng vào gốc bệnh là điều chỉnh khí/huyết tái lập lại sự quân bình của âm-dương trở lại bình thường.

Cách chữa Phủ là khí thực thì tả bớt thực, khí hư thiếu thì phải bồi bổ cho đủ.

Cách chữa Tạng là huyết thực thì tả bớt thực, huyết hư thiếu phải bồi bổ cho đủ.

Hàn lạnh thì tả bới hàn hay phải bổ thên nhiệt hay ngược lại dư nhiệt phải cắt bớt nhiệt hay tăng hàn.

Có 3 cách điều chỉnh theo đông y là điều chỉnh theo Tinh-Khí-Thần thuận theo âm-dương hư-thực, hàn-nhiệt.

1-Điều chỉnh Tinh :

Là điều chỉnh bằng thuốc uống hay bằng thức ăn cũng phải theo quy luật âm-dương ngũ hành. Dương là chất tạo khí, âm là chất tạo huyết, ngũ hành là chất chua vào gan mộc, chất đắng vào tâm hỏa, chất ngọt vào tỳ thổ, chất cay vào phế kim, chất mặn vào thận thủy.

Cách điều chỉnh Tinh là phạm vi chuyên môn của các thầy chuyên môn ngày nay về dược và dinh dưỡng.

a-Như cao áp huyết phải ăn những chấp làm hạ như cam, chanh, buởi, trà xanh, hoa cúc, canh chua, gạo lức....

b-Áp huyết thấp thì ăn uống những chất làm tăng áp huyết như nhãn, xoài, mít, sầu riêng, trái hồng, khô mực, chất cay nóng, chất chi6n xào nướng....nếu ăn uống ngược lại là sai, đông y gọi là thực làm thêm thực, hư làm thêm hư...

2-Điều chỉnh Khí :

Là điều chỉnh theo âm-dương hư thực hàn-nhiệt bằng huyệt hay bằng cách tập Khí Công Trị Liệu cũng phải theo khí âm-dương, hàn-nhiệt, thăng-giáng, xuất-liễm, thì hiện nay vẫn áp dụng bấm huyệt, châm huyệt, vuốt huyệt nhưng chỉ chữa ngọn theo tên bệnh bằng những công thức huyệt có sẵn chứ không chữa gốc theo âm-dương tạng-phủ hư thực hàn nhiệt, còn chữa theo khí công cũng chưa có loại khí công nào phân ra các bài tập làm tăng giảm khí huyết của tạng hay phủ, và được kiểm chứng xem đúng sai bằng máy đo áp huyết và máy đo đường xem kết qủa bài tập có trở lại bình thường hay không. Chứ không phải là bài tập phòng bệnh hay cường thân kiện thể mà bệnh vẫn chưa khỏi.

a-Tập bài Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng 200 lần và bài Cúi Lạy 20 phút làm hạ áp huyết và đường. Mỗi ngày tập 3-6 lần.

b-Tập bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 100 lần và bài Nằm Ngửa co hai gối vào bụng rồi Đá Gót Chân Vào Mông 200 lần. Mỗi ngày tập 3-6 lần.

3-Điều chỉnh Thần :

Là điều chỉnh tâm tánh làm thay đổi khí cũng phải biết thuận theo ngũ hành như :

Vui qúa hại tm, Lo qúa hại tỳ vị (lo ăn mất ngon), Buồn qúa thở dài hại phổi, Sợ qúa vải đái hại thận, Giận qúa bầm gan hại gan, làm sung huyết não đứt mạch máu não làm liệt chân tay.

Trước khi đi ngủ :Nằm tập thở Đan Điền Thần làm tăng áp huyết. Nằm thở Đan Điền Tinh làm hạ áp huyết.

B-Cách điều chỉnh Khí/Huyết/Hàn-nhiệt bằng huyệt :

Có 4 hạng thầy chữa bằng huyệt :

Thầy day bấm huyệt, thầy day vuốt huyệt, thầy châm và hơ cứu huyệt, và thần châm là nói về kỹ thuật day bấm châm đúng huyệt, nhưng lại chia làm 3 bậc thầy là hạ công, trung công và thượng công, có nghĩa là tuy cùng trình đô học vấn bằng cấp như nhau, nhưng bậc hạ công chữa ngọn hết bệnh liền được nổi tiếng, có nhiều bệnh nhân, nhưng lại sinh ra biến chứng thành một bệnh khác, còn bậc trung công vửa chữa ngọn vừa ngừa biến chứng, thì hết bệnh chậm hơn, còn bậc thượng công vừa chữa ngọn, vừa ngừa biến chứng vừa bồi bổ gốc bệnh thì thời gian khỏi bệnh lâu hơn nhưng bệnh không tái phát hay biến chứng..

Nếu giải thích theo ngũ hành thí dụ bệnh tim suy là hỏa suy, nếu chữa vào tim hết suy hết hồi hộp ngay là bậc hạ công.

Nhưng vì suy tim lâu nên hỏa không nuôi tỳ vị thổ lâu, cũng đã làm cho bao tử yếu ăn không tiêu đầy bụng, mà bậc hạ công chưa chữa, còn bậc trung công vừa chữa tim suy vừa chữa cho chức năng tỳ vị mạnh, tiêu hóa tốt.

Nhưng tại sao tim lại suy mới là gốc bệnh từ gan do thiếu máu, thì bậc thượng công vừa chữa theo bậc trung công nhưng cò bổ máu cho gan để gan cung cấp máu cho tim hoạt động đủ thì sau này cả gan, cả tim, cả bao tử khỏi hết bệnh.

Ngày nay các trường dạy châm cứu thì không cần lý luận ngũ hành, chỉ cần học huyệt, châm đúng huyệt, và học thuộc công thức huyệt cho từng loại bệnh, mà không biết lý luận công thức huyệt đó đúng hay sai

Cổ nhân đã có nhiều kinh nghiệm truyền lại cho hậu thế nhiều công thức chữa vào gốc bệnh để điều chỉnh sự xáo trộn của Khí/Huyết/Nhịp tim theo phương châm : Nhất điểm thông kinh mạch. Có nghĩa là khi cơ thể có một bệnh, thì liên quan đến 3 đường kinh là chính kinh bị bệnh, nếu bệnh hư thì kinh mẹ cũng hư, nếu bệnh thực thì kinh con cũng thực.

Mỗi đường kinh cồ nhân cũng đã tìm ra 5 huyệt có mang tên ngũ hành để điều chỉnh cho chức năng hoạt động của đường kinh mạnh lên hay yếu đi. Như vậy một bẹnh liên qua đến 3 kinh là 15 huyệt để điều chỉnh., thì chúng ta lý luận bệnh thế nào chỉ cho phép dùng 1 huyệt để chữa mà khỏi bệnh, nên gọi là nhất điểm thông kinh mạch.

Dưới đây là 1 công thức cổ điển chữa được mọi bệnh do xáo trộn Khí/huyết/nhịp tim. Nhiều người thấy dùng ít huyệt qúa nên không tin, chỉ lý luận tìm ngọn mà không tìm gốc.

Bây giờ chúng ta dùng máy đo áp huyết kiểm chứng lại, trước khi áp dụng và sau khi áp dụng, áp huyết 3 số thay đổi xem có đúng những huyệt này đã làm thay đổi như kết qủa mong muốn hay không.

PHẦN BA : Công thức

A-Công thức làm tăng áp huyết hay giảm áp huyết và tăng nhiệt giảm nhiệt.

Quy luật bổ-tả :

Bổ : Dùng ngón tay ấn vào huyệt day tròn thuận chiều kim đồng hồ 9 lần.

Tả : Dùng ngón tay ấn vào huyệt, day tròn ngược chiều kim đồng hồ 6 lần

Có thể bổ hay tả 2-3 lần cho áp huyết lọt vào tiêu chuẩn tuổi.

1-Làm tăng Khí lực (tâm thu) :

a-Chọn huyệt làm tăng khí lực bên tay trái : Bổ Giải Khê, bổ Hậu Khê

b-Chọn huyệt làm tăng khí lực bên tay phải : Bổ Hiệp Khê, bổ Chí Âm

2-Làm giảm Khí lực (tâm thu):

a-Chọn huyệt làm giảm khí lực bên tay trái : Tả Lệ Đoài, tả Nhị Gian

b-Chọn huyệt làm giảm khí lực bên tay phải : Tả Dương Phụ, tả Tiểu Hải

3-Làm tăng Huyết (tâm trương) :

a-Chọn huyệt làm tăng huyết bên tay trái :Bổ Đại Đô, bổ Thiếu Xung

b-Chọn huyệt làm tăng huyết bên phải : Bổ Khúc Tuyền, bổ Phục Lưu

4-Làm giảm Huyết (tâm trương) :

a-Chọn huyệt làm giảm huyết bên tay trái : Tả Thương Khâu, tả Ngư Tế

b-Chọn huyệt làm giảm huyết bên tay phải : Tả Hành Gian, tả Thần Môn

5-Làm tăng nhiệt (nhịp tim) :

a-Chọn huyệt làm tăng nhiệt bên tay trái : Bỏ Đại Đô

b-Chọn huyệt tăng nhiệt bên tay phải : Bổ Hành Gian

6-Làm hạ nhiệt (nhịp tim) :

a-Chọn huyệt làm hạ nhiệt bên tay trái : Tả Đại Đô

b-Chọn huyệt làm hạ nhiệt bên tay phải : Tả Hành Gian

Lưu ý : Cơ thể nóng hay lạnh là do máu chạy nhanh hay chậm, nên chữa trên chính kinh âm, mà không chữa trên kinh dương.

Trên đây là 1 bộ công thức có ghi rõ bổ tả, nếu làm sai, bổ không ra bổ, tả không ra tả thì không có kết qủa.

Tuy nhiên ngày nay trong sách có ghi rất nhiều công thức đã tam sao thất bản nên chữa không có kết qủa vì phạm 2 sai lầm : thứ nhất không ghi bổ hay tả, thứ hai ghi thứ tự huyệt lộn xộn huyệt nào phải làm trước huyệt nao phải làm sau.

Muốn kiêm chứng lại những công thức này, phải sắp xếp lại thứ tự và quy luật bổ tả theo quy luật căn bản dưới đây :

B-Một số quy luật căn bản của lý thuyết đông y áp dụng để chữa bệnh bằng huyệt.

Chữa bệnh theo đông y là điều chỉnh khí hóa ngũ hành tạng phủ trở lại tiêu chuẩn bình thường.

1-Hai đường kinh âm-dương mang tên một hành riêng tùy theo chức năng như :

Kinh hỏa có 1 cặp âm dương, dương hỏa chủ khí là Kinh Tiểu Trường, âm hỏa thuộc huyết là Kinh Tâm.

Kinh thổ có 1 cặp âm-dương, dương thổ chủ khí là Kinh Vị, âm thổ chủ huyết là Kinh Tỳ.

Kinh kim có 1 cặp âm-dương, dương kim chủ khí là Kinh Đại Trường, âm kim chủ huyết là Kinh Phế.

Kinh thủy có 1 cặp âm-dương, dương thủy chủ khí là Kinh Bàng Quang, âm thủy chủ huyết là Kinh Thận.

Kinh mộc có 1 cặp âm-dương, dương mộc chủ khí là Kinh Đởm, âm mộc chủ huyết là Kinh Can.

2-Ngũ Du Huyệt trên mỗi đường kinh :

Mỗi đường kinh có 5 huyệt ngũ hành gọi là Ngũ Du Huyệt để điều chỉnh chức năng Bổ hư,Tả thực làm cho Khí hay Huyết mạnh lên khi nó suy yếu hay yếu đi khi nó qúa dư thừa.

Ngũ Du Huyệt hay còn gọi là huyệt Tỉnh, Vinh, Du, Kinh, Hợp.

Trên kinh âm bắt đầu là huyệt mộc ở đầu ngón tay hay chân. tiếp tục theo vòng tương sinh là :

Huyệt mộc (huyệt Tỉnh), huyệt hỏa (huyệt Vinh), huyệt thổ (huyệt Du), huyệt kim (huyệt Kinh) , huyệt thủy (huyệt Hợp).

Trên kinh dương bắt đầu là huyệt kim ở đầu ngón tay chân, tiếp tục theo vòng tương sinh là :

Huyệt kim (huyệt Tỉnh), huyệt thủy (huyệt Vinh), huyệt mộc (huyệt Du), huyệt hỏa ( huyệt Kinh), huyệt thổ (huyệt Hợp).

3-Quy luật Bổ Tả :

a-Chọn huyệt Bổ hay Tả trên chính kinh bệnh, rồi chọn huyệt bổ tả trên kinh mẹ hay kinh con theo quy luật con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con.

Thí dụ : Kinh Vị khí lực hư yếu chỉ đo được 105mmHg so với theo tiêu chuẩn tuổi trung niên :

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

Nếu 1 bệnh nhân trong tuổi này có số đo áp huyết tay trái là :

105/73mmHg nhịp tim 70 có nghĩa : khí lực hư/huyết đủ/ nồng độ đường đủ.

Chỉ cần làm tăng khí lực tay trái bằng 2 huyệt Bổ Giải Khê, bổ Hậu Khê.

b-Cách Bổ-Tả :

Có nhiều cách bổ tả khác nhau theo nhiều phương pháp :

Phương pháp châm bằng kim châm cứu :

Nếu châm thẳng vuông góc vào huyệt, thì vê kim để bổ theo chiều thuận kim đồng hồ 9 lần, vê kim để tả nghịch chiều kim đồng hồ.

Nếu theo phương pháp nghinh-tùy, nghinh là tả, hướng mũi kim đón chặn đầu ngược lại lại chiều đường đi của kinh mạch. Tùy là bổ hướng mũi kim thuận xuôi theo chiều đường kinh.

Phương pháp hơ cứu huyệt :

Nếu tả thì cầm cây hơ bằng ngải cứu hay cây nhang để cách huyệt lúc 3cm, lúc 5cm, như vậy là lúc huyệt nóng nhiều, lúc nóng ít, (gọi là nhấp trên huyệt)

Nếu bổ thì để xa huyệt 5cm giữ nguyên vị trí đếm từ 1 đến tối đa 60 tiến đếm cho huyệt nóng dần, không để qúa 1 phút sẽ làm phỏng da.

Cấm kỵ hơ huyệt cho những người bị bệnh tiểu đường, da mất cảm giác, nhưng cứ qúa 60 giây mặc dù bệnh nhân không cảm thấy nóng nhưng da vẫn bị cháy phỏng gây vết lở loét loang rộng khó lành da.

PHẦN BỐN : Phương pháp day vuốt huyệt theo KCYĐ :

Vẫn xem huyệt là chính, nhưng vuốt trên một đoạn huyệt ngũ hành tác động trên đường kinh nhanh hơn, nên không khó như châm cứu phải đúng huyệt, vì trên kinh đã có sẵn đoạn bổ hay tả.

Trước khi vuốt huyệt trên da bệnh nhân, cần phải thoa dầu bôi trơn vừa dễ vuốt vừa không bị trầy da bệnh nhân. Chỉ cần vuốt bổ thì không làm đau bệnh nhân, nếu đau sẽ phản tác dụng thành tả.

Còn vuốt tả thì vuốt hơi đau.

Như vậy 6 công thức này được thực hành vuốt huyết như sau :

1-Làm tăng Khí lực (tâm thu) :

a-Chọn huyệt làm tăng khí lực bên tay trái : Bổ Giải Khê, bổ Hậu Khê

Bổ hỏa đoạn là vuốt từ Túc Tam Lý đến Giải Khê 9 lần rồi mới ấn day Giải Khê thuận 9 lần.

Bổ mộc đoạn là vuốt từ Hậu Khê đến Dương Cốc 9 lần, rồi mới ấn day Hậu Khê thuận 9 lần.

clip_image002 clip_image004

b-Chọn huyệt làm tăng khí lực bên tay phải : Bổ Hiệp Khê, bổ Chí Âm

clip_image006 clip_image008

Bổ thủy đoạn vuốt từ Túc Lâm Khấp đến Hiệp Khê 9 lần, rồi ấn day Hiệp Khê 9 lần thuận.

Bổ kim đoạn vuốt từ Thông Cốc đến Chí Âm lần, rồi ấn day Chí Âm 9 lần thuận.

2-Làm giảm Khí lực (tâm thu):

a-Chọn huyệt làm giảm khí lực bên tay trái : Tả Lệ Đoài, tả Nhị Gian

clip_image009 clip_image011

Tả kim đoạn từ Nội Đình đến Lệ Đoài 6 lần rồi ấn day Lệ Đoài 6 lần nghịch chiều.

Tả thủy đoạn từ Nhị Gian đến Tam Gian 6 lần rồi ấn day Nhị Gian 6 lần nghịch chiều

b-Chọn huyệt làm giảm khí lực bên tay phải : Tả Dương Phụ, tả Tiểu Hải

clip_image012 clip_image013

Tả hỏa đoạn vuốt từ Dương Lăng Tuyền đến Dương Phụ 6 lần rổi ấn day Dương Phụ 6 lần nghịch.

Tả thổ đoạn vuốt từ Tiểu Hải lên nách 6 lần rồi ấn day Tiểu Hải 6 lần nghịch.

3-Làm tăng Huyết (tâm trương) :

a-Chọn huyệt làm tăng huyết bên tay trái : Bổ Đại Đô, bổ Thiếu Xung

clip_image015 clip_image017

Vuốt từ Đại Đô đến Thái Bạch 9 lần rồi ấn day Đại Đô 9 lần thuận.

Vuốt từ Thiếu Phủ đến Thiếu Xung 9 lần rồi ấn day Thiếu Xung 9 lần thuận.

b-Chọn huyệt làm tăng huyết bên phải : Bổ Khúc Tuyền, bổ Phục Lưu

clip_image019 clip_image021

Vuốt từ Khúc Tuyền lên háng (Âm Liêm) 9 lần rồi ấn day Khúc Tuyền 9 lần thuận.

Vuốt từ Phục Lưu lên Âm Cốc 9 lần rồi ấn day Phục Lưu 9 lần thuận

4-Làm giảm Huyết (tâm trương) :

a-Chọn huyệt làm giảm huyết bên tay trái : Tả Thương Khâu, tả Xích

Trạch. 
clip_image022 clip_image024

Vuốt từ Thương Khâu lên Âm Lăng Tuyền 6 lần rồi ấn day Thương Khâu 6 lần nghịch.

Vuốt từ Trung Phủ dồn huyết vào huyệt Xích Trạch 6 lần rồi ấn day Xích Trạch 6 lần nghịch.

b-Chọn huyệt làm giảm huyết bên tay phải : Tả Hành Gian, tả Thần Môn

clip_image025 clip_image026

Vuốt từ Hành Gian lên Thái Xung 6 lần rối ấn day Thái Xung 6 lần nghịch.

Vuốt từ Linh Đạo ddđến Thần Môn 6 lần rồi ấn day Thần Môn 6 lần nghịch

5-Làm tăng nhiệt (nhịp tim) :

a-Chọn huyệt làm tăng nhiệt bên tay trái : Bỏ Đại Đô, ấn day thuận chiều 9 lần

b-Chọn huyệt tăng nhiệt bên tay phải : Bổ Hành Gian, ấn day nghịch chiều 6 lần

6-Làm hạ nhiệt (nhịp tim) :

a-Chọn huyệt làm hạ nhiệt bên tay trái : Tả Đại Đô, ấn day huyệt nghịch chiều 6 lần.

b-Chọn huyệt làm hạ nhiệt bên tay phải : Tả Hành Gian, ấn day huyệt nghịch chiều 6 lần.